Cắt gan do sỏi tại Bệnh viện ĐHYD Hoàng Anh Gia Lai

Bệnh viện Đại học Y Dược - Hoàng Anh Gia Lai

Thư viện điện tử

library icon

hotline

Liên kết Website
Thứ tư, 27 Tháng 11 2019 01:22

        Chị Tăng Thị H. 47 tuổi, là công nhân tại Gia Lai. Chị chia sẽ cách đây 9 năm đã được nội soi mật tuỵ ngược dòng (ERCP) lấy sỏi ống mật chủ. Từ đó tới nay không hề có triệu chứng gì, ăn uống và sinh hoạt bình thường. Đến cách đây khoảng hơn 1 tháng, chị có lúc đau thượng vị từng cơn, đau ngày càng nhiều và đau thành liên tục cả ngày. Đôi khi cảm giác ớn lạnh, tiểu nước tiểu vàng sậm. Khi vào viện mới thấy vàng mắt, sốt lạnh run ngày càng nhiều. Bác sỹ giải thích có tình trạng viêm đường mật do sỏi, cần phải khống chế nhiễm trùng, đánh giá lại tình trạng cây đường đường mật về hình dạng và kích thước, tình trạng nhu mô gan để có hướng điều trị thích hợp.

hinhMRI

Bác sỹ tại khoa ngoại Tổng Quát hội chẩn cùng với bác sỹ ngoại ĐHYD TP HCM. Kết quả hội chẩn nêu rõ: Với hình ảnh nhu mô gan thuỳ trái teo nhỏ, ống gan trái hẹp và hình ảnh sỏi ống mật chủ, người bệnh có chỉ định phẫu thuật cắt gan thuỳ trái, mở ống mật chủ lấy sỏi và thám sát đường mật sau khi kiểm soát được tình trạng viêm đường mật. Nhằm giúp người bệnh giảm đau sau mổ nên bác sỹ gây mê quyết định giảm đau ngoài màng cứng. Đây là phương pháp vô cảm rất hiệu quả sau mổ cho những trường hợp phẫu thuật mở trên rốn với đường mổ dài.

catgan1

Cuộc mổ diễn ra thuật lợi, thời gian mổ kéo dài 90 phút, hầu như không mật máu. Người bệnh được bỏ phần gan thuỳ trái, đây là phần nguy hiểm nhất vì có khả năng ung thư đường mật sau này.

Người bệnh được ăn uống vào ngày thứ 2, tự vận động và sinh hoạt vào ngày thứ 3 sau mổ. Ống dẫn lưu ổ bụng được rút sau mổ 2 ngày, ống dẫn lưu đường mật được chụp hình sau mổ ngày thứ 7 và được xuất viện. Ống dẫn lưu đường mật sẽ được rút khỏi cơ thể khi tái khám theo lịch.

Tóm lại

Sỏi trong gan nguyên phát rất hay gặp ở các nước Đông Á. Bệnh sinh rất phức tạp, thường liên quan với các yếu tố như ứ đọng mật, nhiễm trùng mật, kém dinh dưỡng, và nhiễm ký sinh trùng được gọi chung là viêm gan-đường mật của phương Đông. Ứ đọng mật kết hợp với tắc mật đưa đến nhiễm trùng, nhất là nhiễm Escherichia coli và các chủng Enterobacter (>95%) đi đến gan qua đường tĩnh mạch cửa sau các tổn thương liên tiếp của niêm mạc ruột do ký sinh trùng gây ra. Các ký sinh trùng đường mật tương đối hay gặp ở các nước Đông Á, ở những nơi trình độ vệ sinh kém. Nhiễm ký sinh đường mật do sán lá Clonorchis sinensis và giun đũa Ascaris lumbricoides đưa đến viêm biểu mô ống mật, làm tăng tiết mucin và cùng với các mảnh xác hoặc các trứng của ký sinh trùng sinh ra các ổ tạo sỏi.

 Các yếu tố nguy cơ sỏi mật 

Sỏi ống mật chủ

Các yếu tố nguy cơ mắc phải của sỏi ống mật bao gồm không chỉ các yếu tố sinh học như tuổi, giới và chuyển hóa mỡ mà còn cả các yếu tố về chế độ ăn chẳng hạn như dinh dưỡng, béo phì, tăng cân và giảm cân nhanh, và chế độ luyện tập. Hơn nữa, các tình trạng viêm nhiễm mạn tính – chẳng hạn như giảm chức năng cơ Oddi, viêm đường mật xơ hóa nguyên phát, hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, và nhiễm các loại ký sinh trùng – có thể dẫn đến tạo sỏi ống mật. Một số thuốc tiết vào mật có thể kết tủa với calcium và tạo sỏi. 

Sỏi trong gan 

Sự tạo sỏi trong gan chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nguy cơ bẩm sinh và mắc phải. 

Các yếu tố bẩm sinh bao gồm: (1) các bất thường về giải phẫu chẳng hạn như các trít hẹp đường mật trong bệnh viêm đường mật xơ hóa, bệnh Caroli, và các bất thường ngoài gan thí dụ như nang ống mật chủ; và (2) các bệnh di truyền chẳng hạn như các bệnh tán huyết. Tỷ lệ mắc sỏi gan trái tương đối cao, có thể cắt nghĩa bằng sự khác nhau về giải phẫu giữa các ống gan phải và trái. Dãn ống mật chủ bẩm sinh, kể cả nang ống mật chủ, hay gặp ở phương Đông, nhưng mối liên quan với sỏi trong gan thì còn cần được nghiên cứu thêm. Các bệnh tán huyết đưa đến sản xuất thừa bilirubin và dẫn đến tạo sỏi sắc tố đen ở bất kể vị trí giải phẫu nào nhưng hầu hết là ở túi mật. 

Các yếu tố mắc phải bao gồm các trít hẹp ống mật sau mổ thường là sau cắt túi mật, cắt gan bán phần, và ghép gan, các trít hẹp ống mật do lỗi phẫu thuật viên cũng như các trường hợp hẹp ống mật lành và ác tính khác. Các hẹp lành tính cũng gặp sau hóa-thuyên tắc các u gan và trong viêm tụy mạn. Ngoài ra, viêm đường mật mạn tính trong suy giảm miễn dịch mắc phải, đưa đến viêm đường mật xơ hóa thứ phát và xơ gan/tắc mật.

Các yếu tố môi trường có liên quan đến sỏi trong gan nhiều hơn là các yếu tố chủng tộc. Trong các yếu tố môi trường này, thói quen ăn uống, nhiễm trùng, và nhiễm ký sinh trùng đường mật là các yếu tố quan trọng. Tình trạng xã hội-kinh tế cũng được cho là một trong các yếu tố căn nguyên.

 

 

 

 
Nội dung liên quan